Lateral thinking

Aristoteles sinh năm 384 mất năm 322 trước công nguyên. Aristoteles, cùng với Socrates và Plato là bộ ba nhà triết học ảnh hưởng lớn nhất đến phương pháp tư duy cho đến ngày nay. Socrates chưa bao giờ là một nhà kiến tạo, mục đích chính của ông là “loại bỏ rác rưởi”. Socrates cho rằng đấu tranh loại bỏ cái sai thì cuối cùng bạn sẽ tìm ra cái đúng. Điều này tạo ra niềm tin rằng chỉ ra cái sai còn quan trọng hơn tìm ra và xây dựng cái đúng. Plato chịu ảnh hưởng lớn của Socrates và Pythagoras, tin rằng việc giảng dạy toán học giúp phát triển tư duy của con người và nếu chúng ta cố gắng tìm kiếm, tiên đề luôn ở mọi nơi. Aristoteles là người sáng lập ra khoa học cần thiết nhất trong hoạt động tư duy của con người logic học hình thức với quy tắc tam đoạn luận nổi tiếng. Aristoteles là người liên kết mọi thứ với nhau thành một hệ thống logic chặt chẽ trên cơ sở lý thuyết “Những cái ô”. Những cái ô này là các định nghĩa hoặc các nhóm được sắp xếp dựa trên những kinh nghiệm. Bất cứ khi nào chúng ta phải đương đầu với điều gì, chúng ta phải xem nó ở ô nào. Nếu cần thiết chúng ta phải phân tích tình huống, chia nó thành những phần nhỏ hơn để chia vào các ô. Từ sự phân tích đó mà hệ thống lôgic chặt chẽ ra đời dựa trên quy luật đồng nhất, luật bài trung và quy luật cấm mâu thuẫn.
Phương pháp tư duy truyền thống tập trung nhiều vào miêu tả mà coi nhẹ suy đoán, niềm tin rằng chỉ tư duy mới tìm ra chân lý, còn suy đoán không tìm ra chân lý đã hạn chế sự sáng tạo. Tranh luận cũng không phải là cách sáng tạo để nghiên cứu vấn đề vì nó chỉ tập trung vào chiến thắng hơn là nghiên cứu bản chất của vấn đề. Tư duy đối đầu truyền thống tạo nên một xã hội với những mâu thuẫn mà bản thân nó chưa thể giải quyết triệt để. Chính điều này tạo ra những sự xung đột từ nhỏ đến lớn mà không có cách khắc phục triệt để trong hệ thống đó.
David Bohm đã chỉ ra những lỗi hệ thống trong tư duy của con người. Khi ta không thoát ra được hệ thống mắc lỗi đó thì mọi phương cách sửa chữa lỗi là không thể triệt để .
Khái niệm “Lateral thinking” được nhà tâm lý học Edward de Bono đặt tên năm 1967.
Ví dụ tác giả đưa ra là phán quyết của vua Do Thái Solomon (Judgment of Solomon): Đối mặt với vụ tranh chấp con của hai bà mẹ, Solomon yêu cầu cưa đôi đứa trẻ, mỗi người nhận một nửa. Bà mẹ thật sự là người đã phải chấp nhận nhường nhịn kẻ mạo danh để bảo vệ tính mạng con mình.
Ở góc độ nào đó, lateral thinking đứng trên tư duy critical thinking (tư duy phản biện, phân tích) thông thường. Nó đòi hỏi sự sáng tạo những ý tưởng mới từ cái có sẵn, dựa trên những giá trị có tính động (movement value).
Hoa ngữ và Nhật ngữ đều phiên dịch khái niệm này là “thủy bình tư khảo” và định nghĩa đây là tư duy đa hướng, thêm chiều ngang vào chiều dọc (phản biện, phân tích) hoặc phi tuyến tính. Người Việt dịch thành “tư duy ngoại biên” là bám theo tự nghĩa, chứ không phải tính chất. Các từ dịch như tư duy phin tuyến tính, tư duy đường vòng đều không mô tả hết bản chất của nó.
Trong hệ thống tư duy kiểu Debono, điều quan trọng nhất là cho phép xảy ra các bước nhảy phi logic, các giả định và nhiều hướng đi khác nhau khi giải quyết 1 vấn đề không theo thứ tự “tuyến tính” . Nhưng những người không hiểu rõ điều này có thể hiểu nhầm thành tư duy theo “đường vòng”. Các cách định nghĩa này dễ làm người đọc hiểu sai bản chất của hệ thống tư duy Debono. Hiểu sai bước nhày PO và sự sáng tạo độc đáo của kiểu tư duy này.(tôi sẽ trình bày rõ hơn về bước tư duy PO) trong các bài viết sau.
Lateral thinking – là cách giải quyết vấn đề thông qua cách tiếp cận sáng tạo, mà nếu tư duy theo cách logic thông thường sẽ không giải đáp được. Ý tưởng mới chỉ xuất hiện khi chúng ta thách thức chính giả thiết của vấn đề đưa ra và chúng ta sẵn sàng phá vỡ lối mòn tư duy thông thường.
Điều khác biệt ở đấy là nó đơn giản, có thể dạy được và không phải là đặc quyền của một số bộ óc siêu việt.